Chi tiết câu hỏi
Lê Văn Sáng
tỉnh Bình Thuận
Xin Bộ Tài nguyên và Môi trường cho biết cụ thể về các giải pháp công trình và phi công trình cũng như tình hình đầu tư các công trình ứng phó với biến đổi khí hậu tại các địa phương?
 
Bộ Tài nguyên và Môi trường

Trên cơ sở các chiến lược, kế hoạch hành động về ứng phó với biến đổi khí hậu (BĐKH) đã được Thủ tướng Chính phủ ban hành, trong khuôn khổ Chương trình mục tiêu quốc gia ứng phó với BĐKH giai đoạn 2011 - 2015, các Bộ, ngành và địa phương đã tập trung triển khai nhiều mô hình thí điểm, đầu tư công trình nhằm ứng phó, giảm thiểu tác động của BĐKH. Cụ thể:

Bộ Tài nguyên và Môi trường đã xây dựng mô hình số độ cao độ chính xác cao khu vực đồng bằng và ven biển phục vụ công tác nghiên cứu, đánh giá tác động của BĐKH, nước biển dâng; xây dựng hệ thống cảnh báo sớm khí hậu cho Việt Nam; tăng cường năng lực dự báo, cảnh báo thiên tai (đầu tư lắp đặt 226 trạm đo mưa tự động cho Trung tâm Khí tượng thuỷ văn quốc gia); xây dựng thí điểm hệ thống giám sát hỗ trợ ra quyết định cảnh báo cho những khu vực có nguy cơ lũ quét cao phục vụ công tác quy hoạch, chỉ đạo điều hành phòng tránh thiên tai; xây dựng mô hình cộng đồng ứng phó với thiên tai trong điều kiện BĐKH (thí điểm tại hai tỉnh Hà Tĩnh và Quảng Bình).

Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn đã xây dựng mô hình canh tác lúc giảm phát thải khí nhà kính bằng kỹ thuật tưới nước tiết kiệm; mô hình nuôi trồng thuỷ sản ven biển ứng phó với BĐKH; mô hình cộng động chủ động phòng tránh, giảm nhẹ tác hại thiên tai, thích ứng với BĐKH… Bộ Quốc phòng đã xây dựng hệ thống cảnh báo và mô hình giảm thiểu tác động của BĐKH đối với kho vũ khí, đạn dược; xây dựng thí điểm mô hình ứng dụng giải pháp chống sạt lở công sự trong điều kiện BĐKH ở Quân khu 9… Bộ Xây dựng xây dựng và triển khai mô 

hình thí điểm giảm nhẹ phát thải khí nhà kính trong lĩnh vực sản xuất vật liệu xây dựng. Bộ Giao thông vận tải triển khai ứng dụng thí điểm dầu mỡ cá da trơn cho phương tiện thuỷ nội địa lắp động cơ diesel ở đồng bằng sông Mê Công; ứng dụng công nghệ phát điện kết hợp (hybrid) để khai thác nguồn năng lượng mặt trời, sức gió tại 1 ga trên tuyến đường sắt Bắc – Nam.

Các địa phương cũng đã triển khai nhiều mô hình, công trình ứng phó với BĐKH như các nhà đa năng phục vụ cộng đồng tránh bão lũ; nâng cấp kênh mương thuỷ lợi kết hợp với giao thông nông thôn; xây dựng kè và trồng rừng; nâng cấp kênh tưới kết hợp hồ chứa nước; nâng cấp hệ thống đê ngăn mặn kết hợp đường giao thông tránh bão lũ; mô hình hệ thống canh tác nông nghiệp thích ứng trên đất nhiễm mặn; đê, đập cục bộ để giải quyết vấn đề xâm nhập mặn; mô hình thí điểm nuôi tôm sử dụng công nghệ tuần hoàn nước thích ứng BĐKH.

Bên cạnh các mô hình thí điểm, đầu tư công trình theo Chương trình mục tiêu quốc gia ứng phó với BĐKH nêu trên, Bộ Tài nguyên và Môi trường đã phối hợp với các Bộ, ngành và địa phương triển khai các công trình đầu tư nhằm thích ứng với BĐKH trong khuôn khổ Chương trình Hỗ trợ ứng phó với BĐKH (SP-RCC) với 63 dự án ưu tiến cấp bách có tổng kinh phí là 15.000 tỷ đồng và 42 dự án trồng rừng. Đến hết năm 2015, đã bố trí được 3.100 tỷ cho 27 dự án ưu tiên cấp bách và 910 tỷ đồng cho 41 dự án trồng rừng.

Ngày 26/8/2016, Chính phủ đã ban hành Nghị quyết số 73/NQ-CP phê duyệt chủ trương đầu tư các Chương trình mục tiêu giai đoạn 2016 – 2020, trong đó có Chương trình mục tiêu ứng phó với BĐKH và tăng trưởng xanh. Bộ Tài nguyên và Môi trường đã tích cực phối hợp với các Bộ, ngành và địa phương xác định nhu cầu đầu tư, cụ thể hoá thành các đề xuất dự án cụ thể (khoảng 400 dự án), xây dựng tiêu chí ưu tiên đầu trong giai đoạn 2016 – 2020, cụ thể là: (i)  Phù hợp với quy hoạch, kế hoạch của trung ương và địa phương; (ii) Có tính liên vùng, đa mục tiêu, có tác dụng lan tỏa; (iii) Có tác động trực tiếp bảo vệ tính mạng, tài sản của người dân; (iv) Có/áp dụng giải pháp công nghệ tiên tiến; (v) Phù hợp với mục tiêu tái cơ cấu nông nghiệp, tạo được sinh kế bền vững lâu dài trước các tác động của biến đổi khí hậu; (vi) Phù hợp với Kế hoạch của Việt Nam thực hiện Thỏa thuận Paris (giảm phát thải khí nhà kính, thích ứng với biến đổi khí hậu); (vii)  Có quy mô phù hợp, suất đầu tư hợp lý, phải hoàn thành dứt điểm trước năm 2020.

Từ các dự án giai đoạn 2012-2015 chưa được bố trí vốn và trên 400 dự án đề xuất mới của các địa phương nêu trên, Bộ Tài nguyên và Môi trường đã tổ chức Hội đồng thẩm định liên ngành (gồm đại diện các Bộ và các chuyên gia, các nhà khoa học) để thẩm định, xác định được 66 dự án với nhu cầu kinh phí là 22.000 tỷ đồng cần ưu tiên đầu tư trong giai đoạn 2016-2020; trong đó:

1) Đối với khu vực Đồng bằng sông Cửu Long, đã lựa chọn được các dự án phù hợp với Kế hoạch Đồng bằng Sông Cửu Long, có tác dụng bổ sung, phát huy tính hiệu quả của với các dự án đã, đang được triển khai trong khu vực, dựa trên cách tiếp cận tổng thể, bao gồm: (i) Trồng, phục hồi rừng ngập mặn ven biển tạo đê mềm chắn sóng, nước dâng, tăng cường khả năng hấp 

thụ CO2 và tạo sinh kế bền vững cho người dân; (ii) Xây dựng, nâng cấp hệ thống cấp nước ngọt phục vụ sinh hoạt; hệ thống kiểm soát mặn, các hồ chứa nước ngọt phục vụ sản xuất trong bối cảnh hạn hán, xâm nhập mặn gia tăng; (iii) Xây dựng, nâng cấp các đoạn đê biển, đê sông ở những khu vực xung yếu, có ảnh hưởng lớn và trực tiếp đến sản xuất, tính mạng và đời sống nhân dân.

2) Đối với các tỉnh ven biển, đã lựa chọn được các dự án: (i) Trồng, phục hồi rừng ngập mặn ven biển tạo đê mềm chắn sóng, nước dâng, tăng cường khả năng hấp thụ CO2 và tạo sinh kế bền vững cho người dân; (ii) Xây dựng, nâng cấp các đoạn đê biển, đê sông, nâng cao khả năng thoát lũ kết hợp các giải pháp công trình mềm ở những khu vực có ảnh hưởng lớn và trực tiếp đến sản xuất, tính mạng và đời sống nhân dân; (iii) Xây dựng, nâng cấp hồ chứa nước ngọt (đối với các tỉnh Ninh Thuận, Bình Thuận), hệ thống kiểm soát mặn (đối với các tỉnh thường xuyên bị xâm nhập mặn) phục vụ sản xuất trong bối cảnh hạn hán, xâm nhập mặn gia tăng.

3) Đối với các tỉnh miền núi phía Bắc, đã lựa chọn được các dự án: (i) Trồng, phục hồi rừng phòng hộ đầu nguồn, kết hợp phát triển hạ tầng kỹ thuật nhằm tăng khả năng giữ nước, chống xói mòn, nâng cao độ che phủ, giảm thiệt hại do lũ, lũ quét, sạt lở đất, bảo vệ các công trình hạ lưu, điều hòa khí hậu, duy trì và phát triển sinh kế bền vững; (ii) Xây dựng, nâng cấp hệ thống cấp nước phục vụ sinh hoạt, sản xuất; tăng cường khả năng cấp nước trong mùa khô và điều tiết lũ trong mùa mưa; (iii) Xây dựng, nâng cấp hệ thống thoát lũ, kiểm soát lũ trên các sông lớn.

4) Đối với các tỉnh khu vực Tây Nguyên, đã lựa chọn được các dự án: (i) Xây dựng, nâng cấp các hồ chứa/hệ thống cấp nước phục vụ sinh hoạt, sản xuất trong mùa khô và điều tiết lũ trong mùa mưa.

Tuy nhiên, trong giai đoạn 2016-2020, ngân sách Nhà nước còn khó khăn, Chính phủ mới phân bổ 11.000 tỷ đồng cho các dự án về biến đổi khí hậu. Do đó, Bộ Tài nguyên và Môi trường đã xây dựng và đang đề xuất Thủ tướng Chính phủ xem xém danh mục các dự án ưu tiên về BĐKH trong khuôn khổ Chương trình mục tiêu ứng phó với BĐKH và tăng trưởng xanh.