TÌM KIẾM
   
   
 

Câu hỏi thuộc lĩnh vực: Biến đổi khí hậu

Lê Văn Sáng
Bình Thuận
Xin Bộ Tài nguyên và Môi trường cho biết cụ thể về các giải pháp công trình và phi công trình cũng như tình hình đầu tư các công trình ứng phó với biến đổi khí hậu tại các địa phương?

14/2/2017 11:49:39 AM

Cục Biến đổi khí hậu ( 14/2/2017 11:50:06 AM )

Trên cơ sở các chiến lược, kế hoạch hành động về ứng phó với biến đổi khí hậu (BĐKH) đã được Thủ tướng Chính phủ ban hành, trong khuôn khổ Chương trình mục tiêu quốc gia ứng phó với BĐKH giai đoạn 2011 - 2015, các Bộ, ngành và địa phương đã tập trung triển khai nhiều mô hình thí điểm, đầu tư công trình nhằm ứng phó, giảm thiểu tác động của BĐKH. Cụ thể:

Bộ Tài nguyên và Môi trường đã xây dựng mô hình số độ cao độ chính xác cao khu vực đồng bằng và ven biển phục vụ công tác nghiên cứu, đánh giá tác động của BĐKH, nước biển dâng; xây dựng hệ thống cảnh báo sớm khí hậu cho Việt Nam; tăng cường năng lực dự báo, cảnh báo thiên tai (đầu tư lắp đặt 226 trạm đo mưa tự động cho Trung tâm Khí tượng thuỷ văn quốc gia); xây dựng thí điểm hệ thống giám sát hỗ trợ ra quyết định cảnh báo cho những khu vực có nguy cơ lũ quét cao phục vụ công tác quy hoạch, chỉ đạo điều hành phòng tránh thiên tai; xây dựng mô hình cộng đồng ứng phó với thiên tai trong điều kiện BĐKH (thí điểm tại hai tỉnh Hà Tĩnh và Quảng Bình).

Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn đã xây dựng mô hình canh tác lúc giảm phát thải khí nhà kính bằng kỹ thuật tưới nước tiết kiệm; mô hình nuôi trồng thuỷ sản ven biển ứng phó với BĐKH; mô hình cộng động chủ động phòng tránh, giảm nhẹ tác hại thiên tai, thích ứng với BĐKH… Bộ Quốc phòng đã xây dựng hệ thống cảnh báo và mô hình giảm thiểu tác động của BĐKH đối với kho vũ khí, đạn dược; xây dựng thí điểm mô hình ứng dụng giải pháp chống sạt lở công sự trong điều kiện BĐKH ở Quân khu 9… Bộ Xây dựng xây dựng và triển khai mô

hình thí điểm giảm nhẹ phát thải khí nhà kính trong lĩnh vực sản xuất vật liệu xây dựng. Bộ Giao thông vận tải triển khai ứng dụng thí điểm dầu mỡ cá da trơn cho phương tiện thuỷ nội địa lắp động cơ diesel ở đồng bằng sông Mê Công; ứng dụng công nghệ phát điện kết hợp (hybrid) để khai thác nguồn năng lượng mặt trời, sức gió tại 1 ga trên tuyến đường sắt Bắc – Nam.

Các địa phương cũng đã triển khai nhiều mô hình, công trình ứng phó với BĐKH như các nhà đa năng phục vụ cộng đồng tránh bão lũ; nâng cấp kênh mương thuỷ lợi kết hợp với giao thông nông thôn; xây dựng kè và trồng rừng; nâng cấp kênh tưới kết hợp hồ chứa nước; nâng cấp hệ thống đê ngăn mặn kết hợp đường giao thông tránh bão lũ; mô hình hệ thống canh tác nông nghiệp thích ứng trên đất nhiễm mặn; đê, đập cục bộ để giải quyết vấn đề xâm nhập mặn; mô hình thí điểm nuôi tôm sử dụng công nghệ tuần hoàn nước thích ứng BĐKH.

Bên cạnh các mô hình thí điểm, đầu tư công trình theo Chương trình mục tiêu quốc gia ứng phó với BĐKH nêu trên, Bộ Tài nguyên và Môi trường đã phối hợp với các Bộ, ngành và địa phương triển khai các công trình đầu tư nhằm thích ứng với BĐKH trong khuôn khổ Chương trình Hỗ trợ ứng phó với BĐKH (SP-RCC) với 63 dự án ưu tiến cấp bách có tổng kinh phí là 15.000 tỷ đồng và 42 dự án trồng rừng. Đến hết năm 2015, đã bố trí được 3.100 tỷ cho 27 dự án ưu tiên cấp bách và 910 tỷ đồng cho 41 dự án trồng rừng.

Ngày 26/8/2016, Chính phủ đã ban hành Nghị quyết số 73/NQ-CP phê duyệt chủ trương đầu tư các Chương trình mục tiêu giai đoạn 2016 – 2020, trong đó có Chương trình mục tiêu ứng phó với BĐKH và tăng trưởng xanh. Bộ Tài nguyên và Môi trường đã tích cực phối hợp với các Bộ, ngành và địa phương xác định nhu cầu đầu tư, cụ thể hoá thành các đề xuất dự án cụ thể (khoảng 400 dự án), xây dựng tiêu chí ưu tiên đầu trong giai đoạn 2016 – 2020, cụ thể là: (i)  Phù hợp với quy hoạch, kế hoạch của trung ương và địa phương; (ii) Có tính liên vùng, đa mục tiêu, có tác dụng lan tỏa; (iii) Có tác động trực tiếp bảo vệ tính mạng, tài sản của người dân; (iv) Có/áp dụng giải pháp công nghệ tiên tiến; (v) Phù hợp với mục tiêu tái cơ cấu nông nghiệp, tạo được sinh kế bền vững lâu dài trước các tác động của biến đổi khí hậu; (vi) Phù hợp với Kế hoạch của Việt Nam thực hiện Thỏa thuận Paris (giảm phát thải khí nhà kính, thích ứng với biến đổi khí hậu); (vii)  Có quy mô phù hợp, suất đầu tư hợp lý, phải hoàn thành dứt điểm trước năm 2020.

Từ các dự án giai đoạn 2012-2015 chưa được bố trí vốn và trên 400 dự án đề xuất mới của các địa phương nêu trên, Bộ Tài nguyên và Môi trường đã tổ chức Hội đồng thẩm định liên ngành (gồm đại diện các Bộ và các chuyên gia, các nhà khoa học) để thẩm định, xác định được 66 dự án với nhu cầu kinh phí là 22.000 tỷ đồng cần ưu tiên đầu tư trong giai đoạn 2016-2020; trong đó:

1) Đối với khu vực Đồng bằng sông Cửu Long, đã lựa chọn được các dự án phù hợp với Kế hoạch Đồng bằng Sông Cửu Long, có tác dụng bổ sung, phát huy tính hiệu quả của với các dự án đã, đang được triển khai trong khu vực, dựa trên cách tiếp cận tổng thể, bao gồm: (i) Trồng, phục hồi rừng ngập mặn ven biển tạo đê mềm chắn sóng, nước dâng, tăng cường khả năng hấp

thụ CO2 và tạo sinh kế bền vững cho người dân; (ii) Xây dựng, nâng cấp hệ thống cấp nước ngọt phục vụ sinh hoạt; hệ thống kiểm soát mặn, các hồ chứa nước ngọt phục vụ sản xuất trong bối cảnh hạn hán, xâm nhập mặn gia tăng; (iii) Xây dựng, nâng cấp các đoạn đê biển, đê sông ở những khu vực xung yếu, có ảnh hưởng lớn và trực tiếp đến sản xuất, tính mạng và đời sống nhân dân.

2) Đối với các tỉnh ven biển, đã lựa chọn được các dự án: (i) Trồng, phục hồi rừng ngập mặn ven biển tạo đê mềm chắn sóng, nước dâng, tăng cường khả năng hấp thụ CO2 và tạo sinh kế bền vững cho người dân; (ii) Xây dựng, nâng cấp các đoạn đê biển, đê sông, nâng cao khả năng thoát lũ kết hợp các giải pháp công trình mềm ở những khu vực có ảnh hưởng lớn và trực tiếp đến sản xuất, tính mạng và đời sống nhân dân; (iii) Xây dựng, nâng cấp hồ chứa nước ngọt (đối với các tỉnh Ninh Thuận, Bình Thuận), hệ thống kiểm soát mặn (đối với các tỉnh thường xuyên bị xâm nhập mặn) phục vụ sản xuất trong bối cảnh hạn hán, xâm nhập mặn gia tăng.

3) Đối với các tỉnh miền núi phía Bắc, đã lựa chọn được các dự án: (i) Trồng, phục hồi rừng phòng hộ đầu nguồn, kết hợp phát triển hạ tầng kỹ thuật nhằm tăng khả năng giữ nước, chống xói mòn, nâng cao độ che phủ, giảm thiệt hại do lũ, lũ quét, sạt lở đất, bảo vệ các công trình hạ lưu, điều hòa khí hậu, duy trì và phát triển sinh kế bền vững; (ii) Xây dựng, nâng cấp hệ thống cấp nước phục vụ sinh hoạt, sản xuất; tăng cường khả năng cấp nước trong mùa khô và điều tiết lũ trong mùa mưa; (iii) Xây dựng, nâng cấp hệ thống thoát lũ, kiểm soát lũ trên các sông lớn.

4) Đối với các tỉnh khu vực Tây Nguyên, đã lựa chọn được các dự án: (i) Xây dựng, nâng cấp các hồ chứa/hệ thống cấp nước phục vụ sinh hoạt, sản xuất trong mùa khô và điều tiết lũ trong mùa mưa.

Tuy nhiên, trong giai đoạn 2016-2020, ngân sách Nhà nước còn khó khăn, Chính phủ mới phân bổ 11.000 tỷ đồng cho các dự án về biến đổi khí hậu. Do đó, Bộ Tài nguyên và Môi trường đã xây dựng và đang đề xuất Thủ tướng Chính phủ xem xém danh mục các dự án ưu tiên về BĐKH trong khuôn khổ Chương trình mục tiêu ứng phó với BĐKH và tăng trưởng xanh.


... Xem chi tiết


Lê Trương Bảo Ngọc
Khánh Hòa
letruongbaongoc15kute@gmail.com
Cho e hỏi việc xây dựng và công bố kịch bản biến đổi khí hậu được thực hiện theo quy định tại điều nào của Luật khí tượng thủy văn năm 2015? Bộ Tài nguyên và môi trường đã công bố 3 kịch bản biến đổi khí? Vậy nội dung cơ bản của kịch bản năm 2016 là gì ạ? Em cảm ơn

23/11/2017 12:00:00 AM

Cục Biến đổi khí hậu ( 20/12/2017 10:50:46 AM )

Nội dung câu trả lời:

Việc xây dựng và công bố kịch bản BĐKH được thực hiện theo quy định tại Luật khí tượng thủy văn như sau:

Tại khoản 7 Điều 34 “Xây dựng kịch bản biến đổi khí hậu” được quy định là nội dung của giám sát biến đổi khí hậu

Cụ thể tại Điều 36. Kịch bản biến đổi khí hậu

1. Nội dung cơ bản của kịch bản biến đổi khí hậu:

a) Công bố của Ban liên Chính phủ về biến đổi khí hậu (IPCC) và đánh giá của Việt Nam về biểu hiện của biến đổi khí hậu trong khu vực, trên thế giới;

b) Biểu hiện của biến đổi khí hậu tại Việt Nam;

c) Kết quả đánh giá các kịch bản biến đổi khí hậu kỳ trước;

d) Thay đổi về nhiệt độ, mưa, độ ẩm, nước biển dâng và các yếu tố khí tượng thủy văn khác tại Việt Nam trong tương lai theo các giả định;

đ) Các nội dung khác có liên quan.

2. Kỳ xây dựng, công bố kịch bản biến đổi khí hậu là 5 năm và có thể được cập nhật, điều chỉnh, bổ sung khi cần thiết.

Theo các chuyên gia, kịch bản biến đổi khí hậu và nước biển dâng được xây dựng, tính toán dựa trên kịch bản phát thải khí nhà kính. Theo đó, có ba kịch bản biến đổi khí hậu tại Việt Nam được xây dựng dựa trên ba kịch bản phát thải, đó là phát thải thấp, phát thải trung bình và phát thải cao.

Kịch bản biến đổi khí hậu và nước biển dâng cho Việt Nam cung cấp những thông tin cập nhật nhất về đánh giá những biểu hiện, xu thế biến đổi trong quá khứ, kịch bản biến đổi khí hậu và nước biển dâng trong thế kỷ 21 ở Việt Nam.

Kịch bản biến đổi khí hậu và nước biển dâng cho Việt Nam được Bộ Tài nguyên và Môi trường công bố lần đầu vào năm 2009 trên cơ sở tổng hợp các nghiên cứu trong và ngoài nước để kịp thời phục vụ các Bộ, ngành và các địa phương trong đánh giá tác động của biến đổi khí hậu đến các ngành, lĩnh vực và khu vực, đồng thời là cơ sở để phục vụ việc xây dựng chiến lược, quy hoạch, kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội giai đoạn 2010-2015. Mức độ chi tiết của các kịch bản mới chỉ giới hạn cho 7 vùng khí hậu và dải ven biển Việt Nam.

Năm 2011, Chiến lược quốc gia về biến đổi khí hậu được ban hành, xác định các mục tiêu ưu tiên cho từng giai đoạn, theo đó Bộ Tài nguyên và Môi trường đã cập nhật kịch bản biến đổi khí hậu và nước biển dâng dựa trên các nguồn dữ liệu, các điều kiện khí hậu cụ thể của Việt Nam và các sản phẩm của các mô hình khí hậu. Kịch bản khí hậu lần này được xây dựng chi tiết đến cấp tỉnh, kịch bản nước biển dâng được chi tiết cho các khu vực ven biển Việt Nam theo từng thập kỷ của thế kỷ 21.

Kịch bản biến đổi khí hậu và nước biển dâng cho Việt Nam năm 2016 được cập nhật theo lộ trình đã được xác định trong Chiến lược quốc gia về biến đổi khí hậu, nhằm cung cấp những thông tin mới nhất về diễn biến, xu thế biến đổi của khí hậu và nước biển dâng trong thời gian qua và kịch bản biến đổi khí hậu và nước biển dâng trong thế kỷ 21 ở Việt Nam.

Để có thêm thông tin về kết quả cập nhật Kịch bản biến đổi khí hậu và nước biển dâng cho Việt Nam năm 2016 xin mời truy cập tại đây:

            Tóm tắt Kịch bản BĐKH và nước biển dâng cho Việt Nam năm 2016.

            Kịch bản BĐKH và nước biển dâng cho Việt Nam năm 2016. 

 

 

 


... Xem chi tiết


Hoàng Thị Mai
Tiền Giang
Hiện nay biến đổi khí hậu đã tác động rất lớn đến đời sống và sản xuất của người dân, nhất là ở vùng Đồng bằng sông Cửu Long (ĐBSCL). Xin được hỏi Bộ Tài nguyên và Môi trường đã có những giải pháp như thế nào để phòng chống và giảm thiểu các thiệt hại do biến đổi khí hậu gây ra .

14/2/2017 11:41:45 AM

Cục Biến đổi khí hậu ( 14/2/2017 11:42:22 AM )

Nhận thức được những tác động ngày càng nghiêm trọng do biến đổi khí hậu gây ra, Bộ TN&MT đã chủ trì, phối hợp với các Bộ, ngành liên quan cũng như các tổ chức phi chính phủ, khối doanh nghiệp khẩn trương đề xuất những giải pháp thiết thực ban đầu như: đẩy mạnh việc xây dựng, hoàn thiện thể chế về biến đổi khí hậu; tăng cường hợp tác quốc tế, trao đổi công nghệ cũng như học tập kinh nghiệm của các nước tiên tiến, đàm phán và kêu gọi hỗ trợ tài chính từ quốc tế; triển khai các mô hình thí điểm ứng phó với biến đổi khí hậu; tăng cường năng lực thực hiện Chiến lược quốc gia về biến đổi khí hậu; đã đệ trình đóng góp dự kiến do quốc gia tự quyết định của Việt Nam (INDC) cho Ban Thư ký Công ước khung của Liên Hợp Quốc về biến đổi khí hậu vào tháng 9 năm 2015, gồm thông tin về mục tiêu giảm nhẹ phát thải khí nhà kính tự nguyện 8% và tăng lên thành 25% khi có sự hỗ trợ quốc tế vào năm 2030 so với kịch bản phát thải thông thường; tiếp tục cập nhật Kịch bản biến đổi khí hậu, nước biển dâng cho Việt Nam đến năm 2015; đã ban hành Thông tư quy định về đánh giá tác động của biến đổi khí hậu và đánh giá khí hậu quốc gia để triển khai thi hành Luật Khí tượng thủy văn vào tháng 5/2016...

Nhằm tiếp tục triển khai các hoạt động ứng phó với biến đổi khí hậu hiệu quả, thiết thực hơn nữa, trong giai đoạn tới Bộ TN&MT tiếp tục phối hợp các Bộ ngành, địa phương, tổ chức liên quan thực hiện:

Nâng cao năng lực tổ chức, hoàn thiện thể chế, chính sách về thích ứng biến đổi khí hậu và giảm nhẹ phát thải khí nhà kính trong các lĩnh vực ưu tiên. Trong thời gian sắp tới, sau khi Việt Nam hoàn thành Đóng góp chính thức do quốc gia tự quyết định (NDC) và thủ tục phê chuẩn Thỏa thuận Paris (dự kiến vào tháng 4/2017), Bộ TN&MT sẽ chủ trì xây dựng Nghị định về lộ trình và phương thức để Việt Nam tham gia hoạt động giảm nhẹ khí nhà kính toàn cầu và các Thông tư hướng dẫn liên quan, xây dựng các chính sách triển khai nhiệm vụtheo kết quả của COP 21.

Tiếp tục cập nhật các kịch bản biến đổi khí hậu ở Việt Nam với độ chi tiết và chính xác cao.

Từng bước hướng dẫn triển khai Kế hoạch hành động ứng phó với biến đổi khí hậu tại các Bộ, ngành, địa phương; triển khai Đề án quản lý phát thải khí gây hiệu ứng nhà kính và hệ thống quốc gia về kiểm kê khí nhà kính...

Cập nhật, hoàn thiện hệ thống cơ sở dữ liệu về biến đổi khí hậu, nước biển dâng gắn với mô hình số độ cao phục vụ công tác quy hoạch phát triển kinh tế xã hội trong điều kiện biến đổi khí hậu, nước biển dâng ở Việt Nam.

Tăng cường năng lực trong hoạt động dự báo, cảnh báo các thiên tai tiềm tàng đảm bảo tính mạng cũng như tài sản của nhân dân; năng lực thích ứng của người dân, mô hình kinh tế trong điều kiện biến đổi khí hậu.

Tiếp tục phổ biến, tuyên truyền nhằm nâng cao nhận thức của cộng đồng về biến đổi khí hậu và đẩy mạnh hợp tác quốc tế, chung tay cùng cộng đồng quốc tếứng phó với biến đổi khí hậu, biến thách thức thành cơ hội để phát triển đất nước.

Phối hợp với Bộ Kế hoạch và Đầu tư, các Bộ ngành liên quan xây dựng, trình Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Chương trình mục tiêu ứng phó với biến đổi khí hậu và tăng trưởng xanh (2016-2020) nhằm phát huy năng lực của toàn đất nước, tiến hành đồng thời các giải pháp thích ứng với biến đổi khí hậu và giảm nhẹ phát thải khí nhà kính, tăng cường năng lực thích ứng của con người và các hệ thống tự nhiên, phát triển một nền kinh tế phát thải các-bon thấp, trong đó tập trung vào các nội dung: hoàn thiện các thể chế, chính sách về biến đổi khí hậu, rà soát, cập nhật quy hoạch khai thác, sử dụng và bảo vệ tài nguyên nước, quy hoạch sử dụng đất theo hướng thích ứng với biến đổi khí hậu, xâm nhập mặn; tăng cường giám sát khí hậu, đặc biệt là năng lực dự báo độ mặn; dựa trên kịch bản biến đổi khí hậu và nước biển dâng và các nhiệm vụ trong Chiến lược quốc gia về biến đổi khí hậu, về tăng trưởng xanh để điều chỉnh quy hoạch, mô hình sản xuất nông nghiệp, công nghiệp, du lịch; triển khai các biện pháp thích ứng liên vùng thông qua công trình cứng, lâu dài như xây dựng hệ thống đê biển, đê sông, hồ chứa ngọt đa mục tiêu, có tính bền vững cao... phù hợp với Kế hoạch ĐBSCL đã được Chính phủ thông qua, phù hợp với phong tục và tập quán của người dân.

Tích cực phối hợp cùng các Bộ ngành liên quan thực hiện hiệu quả Chương trình SPRCC, cũng như các dự án ODA liên quan đến biến đổi khí hậu. ĐBSCL luôn được sự quan tâm của Chính phủ và các Bộ, ngành Trung ương. Trong số 61 dự án ưu tiên trong danh mục đã được Thủ tướng Chính phủ duyệt, có 17 dự án của toàn bộ 13 tỉnh, thành phố ĐBSCL. Các dự án tập trung vào củng cố, nâng cấp, xây dựng mới hệ thống đê, kè sông, biển; hệ thống công trình thủy lợi nhằm điều tiết lũ, ngăn mặn, giữ ngọt; hệ thống cung cấp nước ngọt tại những vùng khô hạn và nhiễm mặn với phạm vi các công trình trên cả vùng ĐBSCL.

Phối hợp với các đơn vị liên quan xây dựng dự án Chống chịu khí hậu tổng hợp và sinh kế bền vững ĐBSCL với mục tiêu nhằm nâng cao quản lý và phát triển một cách tổng hợp, chống chịu khí hậu ởĐBSCL thông qua tăng cường hệ thống thông tin, điều phối thể chế và năng lực thể chế và đầu tư hối tiếc thấp ở một số tỉnh ĐBSCL.Ngân hàng Thế giới đã cam kết hỗ trợ cho vay 300 triệu USD, dự kiến triển khai dự án trong giai đoạn 2016-2020.


... Xem chi tiết


Nguyễn Hùng Long
Kiên Giang
Đề nghị Bộ Tài nguyên và Môi trường đánh giá hiệu quả, tính khả thi của giải pháp công trình và phi công trình ứng phó với biến đổi khí hậu ở đồng bằng sông Cửu Long, miền Trung và Tây Nguyên?

14/2/2017 11:52:59 AM

Cục Biến đổi khí hậu ( 14/2/2017 11:53:43 AM )

Về vấn đề này Bộ Tài nguyên và Môi trường xin trả lời như sau:

Để ứng phó với biến đổi khí hậu nói chung và ở đồng bằng sông Cửu Long và khu vực miền Trung - Tây Nguyên nói riêng, các giải pháp công trình và phi công trình đang được triển khai đó là:

- Các giải pháp phi công trình bao gồm: (1) Tăng cường hoàn thiện thể chế, chính sách pháp luật về ứng phó với biến đổi khí hậu. Đen nay, một số văn bản quan trọng đã được xây dựng, ban hành như: Nghị quyết số 24/NQ-TW của Ban Chấp hành Trung ương Đảng về chủ động ứng phó với biến đổi khí hậu, đẩy mạnh quản lý tài nguyên và bảo vệ môi trường, Luật Bảo vệ môi trường năm 2014 (Chương 4 về ứng phó với biến đổi khí hậu), Luật Khí tượng Thủy văn năm 2015 (Chương 5 về giám sát biến đổi khí hậu), Nghị quyết số 853/NQ-UBTVQH13 ngày 05/12/2014 của ủy ban thường vụ Quốc hội về kết quả giám sát và đẩy mạnh việc thực hiện chính sách, pháp luật về ứng phó với biến đổi khí hậu ở đồng bằng Sông Cửu Long, Quyết định số 2139/QĐ-TTg ngày 05/12/2011 phê duyệt chiến lược quốc gia về biến đổi khí hậu; (2) Tổ chức đào tạo, tập huấn kỹ năng thích ứng với biến đổi khí hậu; tuyên truyền, nâng cao ý thức, trách nhiệm của các cấp, các ngành, doanh nghiệp và người dân trong việc quản lý, khai thác, sử dụng hiệu quả, tiết kiệm nguồn nước.

-Các giải pháp công trình bao gồm: (1) Xây dựng các công trình hồ, đập nhằm điều tiết lũ trong mùa mưa, chống hạn trong mùa khô ở các khu vực có mức độ hạn hán gia tăng; (2) Xây dựng hệ thống kiểm soát mặn, giữ ngọt cho khu vực đong bằng song Cưu Long và khu vực duyên hải miền Trung; (3) Xây dựng, nâng cấp các ho chứa/hệ thống cấp nước phục vụ sinh hoạt, sản xuất trong mùa khô và điều tiết lũ trong mùa mưa; (4) Xây dựng, nâng cấp đê, kè sông, biên xung yêu ở những khu vực có ảnh hưởng lớn và trực tiếp đến sản xuât, tính mạng và đời sông của nhân dân; (5) Trồng, phục hồi rừng ngập mặn ven biển, rừng phòng hộ đâu nguồn nhằm thích ứng với biến đổi khí hậu, tăng khả năng hâp thụ khí CO2 và tạo sinh kế ổn định cho người dân.

Việc triển khai các giải pháp công trình và phi công trình trong thời gian vừa qua bước đầu cho thấy tính khả thi cao và đem lại kết quả tốt. Các giải pháp phi công trình đã tạo được hành lang pháp lý quan trọng trong quản lý, giám sát và triển khai các hoạt động về biến đổi khí hậu, qua đó phát huỵ được trách nhiệm, quyền lợi của người dân, doanh nghiệp trong ứng phó với biến đổi khí hậu; đồng thời góp phần nâng cao nhận thức, ý thức, trách nhiệm của toàn xã hội trong công tác ứng phó với biến đổi khí hậu cũng như trong việc khai thác, sử dụng họp lý, hiệu quả tài nguyên thiên nhiên. Các giải pháp công trình đã góp phần giảm thiệt hại do sóng biển, nước dâng, hạn chế xâm nhập mặn; tăng khả năng giữ nước, chống xói mòn, nâng cao độ che phủ, tạo được sinh kế ổn định bền vững cho người dân, đặc biệt đối với các vùng dân cư ven biển và miền núi.


... Xem chi tiết


Bùi Anh Tuấn
Cà Mau
Thưa quý Bộ, thời gian qua tình trạng hạn hán, xâm nhập mặn đồng bằng sông Cửu Long diễn ra rất nghiêm trọng, không chỉ gây khó khăn cho đời sống nhân dân quanh vùng mà còn đe dọa an ninh lương thực của đất nước. Vậy, Bộ Tài nguyên và Môi trường đã có kế hoạch gì để phát triển bền vững đồng bằng sông Cửu Long, nhất là trong bối cảnh biến đổi khí hậu hiện nay?

14/2/2017 11:32:39 AM

Cục Biến đổi khí hậu ( 14/2/2017 11:33:22 AM )

Tình trạng ngập mặn ở đồng bằng sông Cửu Long (ĐBSCL) vừa qua từ cuối năm 2015, toàn bộ lưu vực sông Mê Công phải đối mặt với một mùa khô rất khắc nghiệt, trong đó vùng ĐBSCL đang phải chịu các tác động nghiêm trọng của hạn hán và xâm nhập mặn lịch sử và có diễn biến cực kỳ phức tạp. Tổng lượng mưa năm 2015 trên lưu vực thiếu hụt so với trung bình nhiều năm (TBNN) khoảng 30%. Đầu mùa khô 2016, tình hình mưa có xu thế giảm mạnh và đầu mùa khô hầu như không có mưa hoặc mưa rất ít. Dòng chảy trong mùa lũ năm 2015 nhỏ hơn TBNN, có thời gian còn nhỏ hơn cả mức lịch sử. Dòng chảy sông Mê Công vào ĐBSCL trong mùa khô 2016 đạt mức nhỏ nhất, thậm chí đạt mức lịch sử. Ở ĐBSCL, độ mặn lớn nhất mùa khô giai đoạn 2015 -2016 đều cao hơn so với TBNN và vượt quá độ mặn lớn nhất cùng kỳ đã từng quan trắc được trong lịch sử. Nguồn nước dưới đất bị nhiễm mặn ở nhiều nơi, suy giảm mực nước liên tục chưa có dấu hiệu hồi phục. Theo kết quả nghiên cứu cho thấy diện tích xâm nhập mặn trong tầng chứa qp2-3 cho thấy diện tích nước nhạt bị giảm từ 20.070 km2 xuống còn 17.213 km2 (từ 2003 đến 2013).

Nguyên nhân của tình trạng trên là do tác động của thời tiết cực đoan làm suy giảm nguồn nước. Bên cạnh đó, còn do tác động của khai thác, sử dụng nước ở thượng nguồn. Việc phát triển 08 đập thủy điện ở Trung Quốc trên sông Mê Công (đoạn thuộc Trung Quốc gọi là sông Lan Thương) giai đoạn I, trong đó 06 đã hoàn thành (Công Quả Kiều, Tiểu Loan, Mãn Loan, Đại Triệu Sơn, Nộ Trác Độ và Cảnh Hồng); giai đoạn II dự kiến 06 đập thủy điện nữa ở thượng nguồn sông Lan Thương (Wu Nong Long, Li Di, Tuo Ba, Huang Deng, Da Hua Qiao, Miao Wei); và kế hoạch phát triển 11 công trình thủy điện thuộc Lào, Thái Lan và Campuchia (Pắc Beng, Luông Phra-bang, Xay-nha-bu-ly, Pắc Lay, Sa-na-kham, Păc Chom, Bản Kủm, Lạt Sửa, Đôn sa-hông, Stung Treng, Sảm Bo) gây ảnh hưởng to lớn đến ĐBSCL của Việt Nam. Chế độ vận hành, điều tiết của hệ thống các hồ chứa trên thượng nguồn, kể cả trên dòng chính và dòng nhánh sẽ quyết định chế độ dòng chảy của sông Tiền, sông Hậu trong cả mùa lũ và mùa cạn. Mặt khác, đó có sự suy giảm dòng chảy trên Biển Hồ. Tại trạm thủy văn Prếc-đam kiểm soát dòng chảy của Biển Hồ trên sông Ton Le Sap cho thấy cuối mùa lũ năm 2015, mực nước thấp chỉ đạt 50% so với TBNN, dòng chảy tháng 01/2016 sụt giảm 71%, tháng 02/2016 sụt giảm 77% so với TBNN.

Để giải quyết những vấn đề về sử dụng nguồn nước ở các khu vực này, Bộ TN&MT đã chủ động phối hợp với các Bộ ngành liên quan chuẩn bị các nội dung để đề nghị Trung Quốc xả nước trong chương trình Hội nghị Cấp cao Mê Công - Lan Thương tổ chức vào ngày 23/3/2016 tại Trung Quốc. Chỉ đạo Ủy ban sông Mê Công Việt Nam thúc đẩy Ủy hội sông Mê Công quốc tế thống nhất các biện pháp sử dụng nước tiết kiệm và đảm bảo dòng chảy về hạ du; có thư đề nghị Trung Quốc tăng cường xả nước từ các công trình thủy điện ở Vân Nam trong mùa khô năm 2016. Chỉ đạo Trung tâm Khí tượng Thủy văn quốc gia theo dõi sát diễn biến thời tiết; tăng cường dự báo, nhận định về khí tượng thủy văn, nguồn nước. Bộ cũng đã giao Cục Quản lý tài nguyên nước và Trung tâm Quy hoạch và Điều tra tài nguyên nước quốc gia sẵn sàng hỗ trợ kỹ thuật, nhân lực, thiết bị để thực hiện tìm kiếm nguồn nước ngọt; hỗ trợ các tỉnh: Vĩnh Long, Trà Vinh, Bến Tre, Kiên Giang, Long An, Tiền Giang, Sóc Trăng và Cà Mau, mỗi địa phương 500 triệu đồng. Xây dựng tiểu Dự án “Đầu tư nâng cấp và hoàn thiện hệ thống quan trắc, giám sát tài nguyên nước mặt tại ĐBSCL” thuộc Dự án Sinh kế bền vững cho vùng ĐBSCL do Ngân hàng thế giới tài trợ.

Đặc biệt, Bộ đã tiến hành “Nghiên cứu đánh giá tác động của các công trình thủy điện trên dòng chính sông Mê Công” do Tư vấn quốc tế DHI của Đan Mạch thực hiện, kết thúc vào tháng 12/2015 tạo cơ sở khoa học để trao đổi với các quốc gia ven sông khác về kế hoạch xây dựng các công trình thuỷ điện dòng chính hướng tới sử dụng hiệu quả và bền vững nguồn tài nguyên nước sông Mê Công.

Trong thời gian tới, Bộ TN&MT sẽ đẩy mạnh hợp tác trong khuôn khổ Ủy hội sông Mê Công quốc tế để giải quyết hài hòa các vấn đề về các công trình thủy điện trên dòng chính. Tiếp tục đưa vấn đề phát triển thuỷ điện dòng chính vào các thoả thuận cấp cao với Lào và Campuchia; huy động nguồn lực của quốc gia để tập trung đàm phán, thuyết phục, đấu tranh để các quốc gia có các hồ chứa thủy điện lớn, kể cả ở dòng chính và dòng nhánh, cùng hợp tác trong việc vận hành phát điện, xả nước xuống hạ du, bảo đảm duy trì dòng chảy tối thiểu trên sông ở mức phù hợp, ít nhất cũng bằng mức trung bình như chúng ta đã và đang làm như vậy khi vận hành các hồ trên lưu vực sông Sê San, Srêpôk để bảo đảm nguồn nước cho Campuchia. Đẩy mạnh công tác theo dõi, giám sát các tác động của thuỷ điện dòng chính thông qua mạng giám sát của Ủy hội sông quốc tế; chủ động đối thoại với các nước bạn về kế hoạch và tình hình triển khai các công trình thuỷ điện dòng chính theo các kênh hợp tác đa phương và song phương; chủ động xây dựng Kế hoạch hành động thích ứng với các tác động; tăng cường hoạt động xây dựng các công cụ hỗ trợ ra quyết đinh như: tăng cường mạng theo dõi giám sát tác động trong nước; xây dựng cơ sở dữ liệu lưu vực; xây dựng các công cụ theo dõi, giám sát và đánh giá tác động... Thành lập Ủy ban lưu vực sông Cửu Long để tăng cường công tác điều phối, giám sát hoạt động khai thác, sử dụng, bảo vệ tài nguyên nước, phòng, chống tác hại do nước gây ra trên đồng bằng nhằm giải quyết hài hòa, có hiệu quả, bền vững các vấn đề về tài nguyên nước giữa các bên liên quan, giữa thượng lưu, hạ lưu và giữa khai thác với bảo vệ. Tập trung xây dựng quy hoạch tài nguyên nước ĐBSCL, gắn với kịch bản BĐKH và các khuyến nghị của chuyên gia Hà Lan trong Kế hoạch châu thổ ĐBSCL. Rà soát, điều chỉnh bổ sung quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế - xã hội, các quy hoạch ngành, lĩnh vực, trên cơ sở khả năng thực tế của nguồn nước và những dự báo về biến động nguồn nước, xâm nhập mặn do tác động của biến đổi khí hậu, nước biển dâng theo các Kịch bản đã được công bố, nhât là những khuyên nghị của Hà Lan trong Kế hoạch Đồng bằng sông Cửu Long.


... Xem chi tiết